1.2. Dịch nghĩa Việt văn
Người ngày xưa đã cởi hạc bay đi mất rồi, nên nơi nầy chỉ còn lại một Hoàng Hạc Lâu trống không mà thôi. Hoàng hạc đã một đi không trở lại, chỉ có mây trắng là vẫn dằng dặc bay mãi ngàn năm. Trời quang mây tạnh trên sông nên nhìn rõ cả những hàng cây bên bờ Hán Dương đối diện, và màu cỏ non xanh biếc trên bãi Anh Vũ ở giữa ngả ba sông. Khi chiều xuống, lúc mặt trời chen lặn, ta không phân biệt phương nào là hướng của quê hương, nên dạ chợt âu sầu vì khói sóng trên sông mờ mịt... Cảnh dẫn đến tình và tình hòa vào cảnh thành một bức tranh sống động gợi cảm tuyệt vời !
1.3. Giải thích từ ngữ
- Tích 昔 : Cũ, xưa. Chiết tự chữ nầy gồm có 3 chữ: Niệm 廿, Nhất 一 và Nhật 日. Niệm (còn đọc là TRẤP) nghĩa là 20. Nhất là một. Nhật là ngày. Chuyện nào đó mà qua 21 ngày là CŨ rồi. Sở Khanh đã dùng chữ Tích nầy rồi thêm vào chữ Việt 越 là Tẩu 走 và Tuất 戌 vào nữa để dụ dỗ cô Kiều bỏ trốn. Cô Kiều cũng thông minh đáo để, cô đã.... Lấy trong ý tứ mà suy :"Ngày hai nươi mốt, tuất thì phải chăng?"
- Thừa 乘 : Cởi, Đi. Ví dụ (Vd) : Thừa mã là cởi ngựa. Thừa xa là đi xe. Trong bài thơ là Thừa Hoàng hạc là Cởi hạc vàng. Thừa còn có nghĩa là Nhân cơ hội. Nhân dịp Vd : Thừa Hứng là nhân lúc còn đang hứng thú. Thừa còn một nghĩa nữa là Toán Nhân. Vd : Thừa số.
- Phản 返 : Đi ngược trở lại. Vd : Phản hồi : đi trở về. Có bộ Xước là bước đi. 反 : Ngược lại. Vd : Phản bội, phản nghịch. Phản Trụ đầu Châu....
- Du 悠 : Xa, Dài. Lâu. Du du : có nghĩa là diệu vợi, dằng dặc..
攸 : Tên của cụ Nguyễn Du. DU nầy có nghĩa là nơi đây, chốn nầy.
- Lịch 歷 : Từng trải, kinh qua. Có bộ Chỉ là dấu chân ở bên dưới. Vd: Lịch lãm, Lịch duyệt. Trong bài Lịch Lịch có nghĩa là rành rành, rõ ràng từng chút một. 曆 : Lịch nầy có bộ Nhật bên dưới là Cuốn Lịch mà ta xé hằng ngày.
- Thê 萋 : Vẻ xanh của cỏ. Thê Thê là xanh non, mơn mởn. Có bộ Thảo trên đầu. Còn 妻 không có bộ Thảo. THÊ là Bà xã, là Hiền Thê Lương Mẫu.
- Mộ 暮 : Chiều, hoàng hôn. Bộ Nhật nằm bên dưới, chỉ mặt trời lặn. 墓 : Mộ Mả. Bộ Thổ ở bên dưới, chỉ đã dùi sâu dưới 3 tất đất đất.慕 : Ái mộ. Ngưởng mộ. Có bộ Tâm ở bên dưới ( chữ Tiểu thêm 1chấm ).募 : Quyên góp, Bắt. Vidu.: Mộ quyên là ddi lạc quyên. Mộ Binh là bắt lính. Chữ Mộ nầy có bộ Lực ở dưới. có nghĩa là phải bỏ công sức ra mà làm.
- Sử 使 : Phó từ : Có nghĩa Làm cho, Khiến cho.Sử Nhân Sầu : Khiến cho người ta buồn. Động từ : Dùng, Xài. Vd : Sử dụng. Danh từ : Đọc là SỨ. Sứ giả, Sứ thần, Đại Sứ.
1.4. Dịch thơ
Người xưa đã cởi hạc bay cao
Bỏ lại ven sông Hoàng Hạc Lâu
Hoàng hạc một đi không trở lại
Bạch vân muôn thuở vẫn bay mau
Hán Dương sông tạnh rừng cây tỏ
Anh Vũ bãi xa cỏ biếc màu
Chiều xuống quê nhà xa chẳng thấy
Đầy sông khói sóng ngẩn ngơ sầu !
Đỗ Chiêu Đức.
* Bài diễn nôm Lục Bát của Thi sĩ Tản Đà :
Hạc vàng ai cởi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng Lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai !...
Quả là cảnh tình hợp nhất, tình cảnh tương liên, hòa hợp thành một bức tranh tuyệt tác... Thảo nào mà khi đến đây, nhìn lên vách thấy bài thơ nầy, Thi Tiên Lý Bạch đã phải quẳng bút mà than rằng : 眼前有景道不得 / 崔颢题詩在上頭 (Nhởn tiền hữu cảnh đạo bất đắc / Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu), nghĩa là trước mắt có cảnh mà nói chẳng nên lời, vì Thôi Hiệu đã đề thơ ở phía trên đầu ta rồi! Vì Lý biết chắc rằng, nếu mình có miễn cưỡng làm thơ, thì chắc chắn chẳng bao giớ bằng được bài thơ mà Thôi Hiệu đã làm, nên thôi. Nhưng nỗi lòng ấm ức vẫn cứ mãi âm ĩ trong tâm, cho nên khi đến đất Kim Lăng, lên ngắm cảnh trên Phụng Hoàng Đài, ông mới xúc cảnh sinh tình, mà làm nên bài thơ "Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài" rất xuất sắc, gieo vần và âm hưởng đều tương tự như bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu. Phải chăng để giải tỏa đi cái ấm ức bấy lâu nay ở trong lòng? Ta hãy cùng đọc bài thơ này
2. PHỤNG HOÀNG ĐÀI 鳳凰台上鳳凰游,
鳳去台空江自流。
吳宮花草埋幽徑,
晉代衣冠成古邱。
三山半落青天外,
二水中分白鷺洲。
總為浮雲能蔽日,
長安不見使人愁。
李白
ĐĂNG KIM LĂNG PHỤNG HOÀNG ĐÀI
Phụng Hoàng Đài thượng Phụng hoàng du
Phụng khứ đài không, giang tự lưu
Ngô cung hoa thảo mai u kính
Tấn đại y quan thành cổ khâu
Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại
Nhị thủy trung phân Bạch lộ châu
Tổng vị phù vân năng tế nhật
Trường An bất kiến sử nhân sầu!
Lý Bạch
2.2. Dịch nghĩa
Lên Phụng Hoàng Đài ở Kim Lăng.
Ngày xưa, phụng hoàng đã từng dạo chơi trên đài Phụng Hoàng nầy,
Nay phụng đã đi rồi, chỉ còn dòng sông lặng lẽ trôi.
Hoa cỏ trong cung Ngô ngày xưa, nay đã tiêu điều trong hẽm vắng,
Những bậc vương hầu khanh tướng nhà Tấn, nay cũng chỉ còn lại những nấm mộ xưa.
Nhìn ra xa, trong cảnh mây mù, ba ngọn núi liền nhau như bị rớt một nửa trên vòm trời xanh,
Bên dưới dòng sông Tần Hoài tách làm đôi chảy thành 2 nhánh bởi cù lao Bạch lộ (cù lao có rất hiều cò trắng trên đó mà thành tên ).
Trong cảnh trí nầy, mây mù lại che khuất cả vầng thái dương,
Nên không thấy được đất Trường An, khiến cho người ta càng thấm thía thêm nỗi sầu nhân thế...(Ông ví mây mù như là bè lũ nịnh thần, che lấp mặt trời, lấn áp Thiên tử, khiến cho người ưu thời mẫn thế cảm thấy lo buồn...) (Theo Đường Thi Tam Bá Thủ).
2.3. Giải thích từ ngữ
- Phụng Hoàng Đài: nằm ở Phụng Đài Sơn thuộc TP Nam Kinh (là Kinh đô Kim Lăng ngày xưa), phía nam Quận Giang Ninh thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay. Tương truyền vào năm Tống Nguyên Gia của thời Nam Triều có rất nhiều chim Phụng hoàng tụ tập ở nơi nầy, vì thế mà xây đài tưởng niệm, Đài và Núi đều lấy tên Phụng Hoàng từ đó.
- Mai 埋 : chôn, vùi. Vd : Mai một ; vùi lấp, chôn vùi.
- Y Quan 衣冠 : Áo mão : chỉ những người quyền quý, quan chức.
- Cổ Khâu 古邱 : Gò đất xưa, ở đây ý chỉ các gò đất hoang.
2.4. Dịch thơ
LÊN PHỤNG HOÀNG ĐÀI Ở KIM LĂNG
Phụng Hoàng Đài trước phụng hoàng chơi
Phụng đã biệt tăm, sông vẫn trôi
Hoa cỏ cung Ngô đà vắng vẻ
Y trang nhà Tấn cũng xa rồi
Ba núi lưng trời như ẩn hiện
Hai dòng sông nước rẻ đôi nơi
Cũng bởi mây mù che mặt nhật
Trường An chẳng thấy dạ bồi hồi!
Đỗ Chiêu Đức.
So với " Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu " thi bài nầy ngụ ý xâu xa hơn, thâm trầm và có chiều sâu hơn, kỹ thuật cũng nghiêm cẩn hơn, nhưng thơ của Thôi Hiệu lại khoáng đạt hơn, trực tả cảnh trí trước mắt, hơi thơ liền lạc đi một mạch từ đầu đến cuối, và " đi " thẳng vào lòng người đọc !.... Hai bài đều có cái hay riêng, nhưng sao ta vẫn thấy Hoàng Hạc Lâu như vẫn thanh thoát và gợi cảm hơn... Có phải chăng... tại Hoàng Hoạc Lâu gần gũi, thân thiết với người đọc hơn là với Phụng Hoàng Đài ?!!!....
Không riêng gì Lý Bạch, còn có rất nhiều thi sĩ đương thời ngấm ngầm ganh tỵ với bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu. Họ không ganh ghét, mà chỉ muốn chứng tỏ tài năng của bản thân mình, vì địa vị và tài hoa của họ cũng không thua Thôi Hiệu chút nào cả.!. Trong số những thi sĩ ngấm ngầm nầy, ta thấy có Vương Xương Linh, tác giả của bài Khuê Oán nổi tiếng với "Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu!". Ông đã làm bài Vạn Tuế Lâu với đủ cả âm hưởng và vần điệu của Hoàng Hạc Lâu. Nào, ta hãy cùng đọc và tìm hiểu bài thơ nầy
3. VẠN TUẾ LÂU
3.1. Nguyên tác Hán văn
萬歳楼
江上巍巍萬歳楼。
不知経歴幾千秋。
年年喜見山長在。
日悲看水独流。
猿狖何曾離暮嶺。
鹭鷀空自泛寒洲。
誰堪登望雲煙裏。
向晩茫茫發旅愁。
王昌齡
VẠN TUẾ LÂU
Giang thượng nguy nguy Vạn Tuế Lâu
Bất tri kinh lịch kỷ thiên thu
Niên niên hỉ kiến sơn trường tại
Nhật nhật bi khan thủy độc lưu
Viên dứu hà tằng ly mộ lĩnh
Lô tư không tự phiếm hàn châu
Thùy kham đăng vọng vân yên lý
Hướng vãn man man phát lữ sầu
Vương Xương Linh.
3.2. Dịch nghĩa
Vạn Tuế Lâu cao cao ngất nghểu trên bờ sông Trường Giang,
Không biết là trải qua mấy ngàn thu rồi.
Nhưng, vẫn còn mừng vì mỗi năm đều trông thấy núi xanh vẫn còn đó,
Chỉ buồn là mỗi ngày đều thấy dòng nước âm thầm lặng lẽ trôi.
Bầy khỉ vượn vẫn luyến lưu chưa từng rời khỏi đĩnh núi mỗi khi chiều xuống,
Cũng như đàn cò kia vẫn luôn luôn bay lượn vô tư lự trên bãi sông lạnh lẽo.
Ai là người có thể leo lên đứng trên lầu cao nầy, nhìn vào trong khói mây mờ mịt mỗi buổi chiều,
Mà không thấy lòng trổi dậy một nỗi buồn lữ thứ tha hương ?!
3.3. Giải thích từ ngữ
- Nguy nguy : Cao ngất nghểu, cao vòi vọi.
- Kinh lịch : Từng trải, trải qua.
- Viên dứu : Từ kép chỉ Khỉ Vượn nói chung.
- Lô tư : Cò trắng, một loại chim đồng.
- Phiếm 泛 : Động từ, có nghĩa là trôi nổi, chợt hiện. bơi chèo. Vd: Phiếm chu là chèo thuyền đi vòng vòng chơi. Tính từ , có nghĩa Rộng rãi, Nói chung. Vd : Phiếm luận. Một nghĩa nữa là Hời hợt. Vd: Phiếm phiếm chi giao 泛泛之交 : là bạn bè bình thường, không thân thiết.
3.4. Dịch thơ
★ Bài dịch của Đỗ Chiêu Đức